Theo báo cáo “Tóm tắt tình hình hoạt động ngành công nghiệp và thương mại tháng 10 và 10T.2013” của Bộ Công thương, tình hình thương mại Việt Nam 10T.2013 có những nội dung chính:
1. Xuất khẩu
Tháng 10, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 11,7 tỷ USD, tăng 12,7% so với tháng 10 năm 2012. Tính chung 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 107,97 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ, trong đó, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt hơn 66,14 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ.
Xét theo nhóm hàng
Kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thuỷ sản ước đạt 16,4 tỷ USD, giảm 6,3% và chiếm tỷ trọng 15,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu nhóm nhiên liệu, khoáng sản ước 7,83 tỷ USD, giảm 19,1% và chiếm tỷ trọng 7,3%.
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 75,9 tỷ USD, tăng 26,3% và chiếm tỷ trọng khoảng 70,3%.
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng hóa khác ước đạt 7,9 tỷ USD, tăng 21,4% và chiếm tỷ trọng 7,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Xét về giá
So với cùng kỳ, giá bình quân của một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục giảm: giá nhân điều giảm 6,2%; hạt tiêu giảm 2,1%; gạo giảm 3,3%; cao su giảm 16,9%; than đá giảm 15,1%; dầu thô giảm 2,7%; xăng dầu các loại giảm 4,9%; quặng và khoáng sản khác giảm 55,9%; phân bón giảm 5%; chất dẻo nguyên liệu giảm 1,6%; sắt thép các loại giảm 5,8%… Một số mặt hàng giá tăng như: chè các loại tăng 6,3%; sắn và sản phẩm từ sắn tăng 9,1%; xơ, sợi dệt các loại tăng 1,2%…
Xét về lượng
Các mặt hàng có lượng xuất khẩu tăng gồm: nhân điều tăng 16,8%; hạt tiêu tăng 21,7%; than đá tăng 16,6%; quặng và khoáng sản khác tăng 144%; xơ, sợi dệt các loại tăng 13,2%; sắt, thép các loại tăng 18,2%… Tuy nhiên, một số mặt hàng giảm như: cà phê giảm 24,0%; chè các loại giảm 5,1%; gạo giảm 14,1%; sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 27,9%; dầu thô giảm 11,8%; xăng dầu các loại giảm 33,9%; phân bón các loại giảm 19,9%…
Xét theo thị trường
Ước xuất khẩu vào thị trường Châu Á tăng 12,5%, chiếm tỷ trọng gần 51,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; Châu Âu tăng 22,1% và chiếm tỷ trọng trên 20,4% (trong đó: EU tăng 23,1% và chiếm tỷ trọng 18,4%); sang thị trường Châu Mỹ tăng 19,8%, chiếm tỷ trọng 20,9%; sang thị trường Châu Phi tăng 5,3%, chiếm tỷ trọng 1,5%; sang thị trường Châu Đại Dương tăng 18,5%, chiếm tỷ trọng 2,7%; thị trường chưa phân tổ chiếm tỷ trọng gần 2,7%.
2. Nhập khẩu
Tháng 10, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 11,9 tỷ USD, tăng 15,5% so với tháng 10 năm 2012. Tính chung 10 tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 108,16 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ.
Xét theo nhóm hàng
So với cùng kỳ, kim ngạch của nhóm hàng cần nhập khẩu ước đạt 95,44 tỷ USD, tăng 15,6% và chiếm tỷ trọng 88,2%; kim ngạch của nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước đạt 3,67 tỷ USD, tăng 0,1% và chiếm tỷ trọng 3,4%; kim ngạch của nhóm hàng hạn chế nhập khẩu ước đạt 4,89 tỷ USD, tăng 12,3% và chiếm tỷ trọng 4,5%; nhóm hàng hóa khác ước đạt 4,16 tỷ USD, giảm 25,1%, chiếm tỷ trọng 3,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu.
Xét theo mặt hàng
So với cùng kỳ, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng như: hạt điều tăng 85,1%; ngô tăng 5,2%; dầu thô tăng 79,8%; chất dẻo nguyên liệu tăng 18,9%; giấy các loại tăng 11,5%; bông các loại tăng 35,7%; xơ, sợi dệt các loại tăng 8,5%; vải các loại tăng 18,2%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 17,7%; thép các loại tăng 10,7%; máy tính, điện tử và linh kiện tăng 40,2%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 11,4%; điện thoại các loại và linh kiện (trừ điện thoại di động) tăng 82,6%… Tuy nhiên, lúa mỳ giảm 25,5%; xăng dầu các loại giảm 25,5%; khí đốt hóa lỏng giảm 4,4%; cao su các loại giảm 17,0%…
Xét về lượng
So với cùng kỳ, lượng nhập khẩu một số mặt hàng như: hạt điều tăng 99,1%; quặng và khoáng sản khác tăng 4,1%; dầu thô tăng 85,3%; phân bón tăng 16,6%; chất dẻo nguyên liệu tăng 13,1%; giấy các loại tăng 19,0%; bông các loại tăng 44,9%; xơ, sợi dệt các loại tăng 8,3%; thép các loại tăng 24,6%… Tuy nhiên, lúa mỳ giảm 33,6%; xăng dầu các loại giảm 22,9%…
Xét về giá
So với cùng kỳ, giá nhập khẩu bình quân của một số mặt hàng tăng như: lúa mỳ tăng 12,3%; ngô tăng 5%; chất dẻo nguyên liệu tăng 5,1%… Tuy nhiên, giá nhập khẩu bình quân của một số mặt hàng giảm: hạt điều giảm 7,0%; quặng và khoáng sản khác giảm 4,0%; dầu thô giảm 2,9%; xăng dầu các loại giảm 3,4%; khí đốt hóa lỏng giảm 4,1%; phân bón giảm 12,8%; cao su giảm 18,9%; giấy các loại giảm 6,3%; bông các loại giảm 6,3%; thép các loại giảm 11,2%; kim loại thường khác giảm 3,4%; phế liệu sắt thép giảm 11,7%…
Xét theo thị trường
Nhập khẩu từ Châu Á tăng 17,4%, chiếm tỷ trọng trên 81,2% tổng kim ngạch nhập khẩu; Châu Âu tăng 7,1% và chiếm tỷ trọng 8,4%, trong đó EU tăng 8,1%, chiếm tỷ trọng 7,1%; Châu Mỹ tăng 8,7% và chiếm tỷ trọng 6,5%; Châu Phi chiếm tỷ trọng 0,4%; Châu Đại Dương chiếm tỷ trọng 1,5% và thị trường khác chiếm tỷ trọng 2,0% (Phụ lục 8).
3. Cán cân thương mại
T10.2013, cả nước nhập siêu 200 triệu USD, bằng 1,71% tổng kim ngạch xuất khẩu (tháng 10). 10T.2013, cả nước nhập siêu 187 triệu USD, bằng 0,17% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khu vực FDI (không kể dầu thô) xuất siêu khoảng 4,15 tỷ USD; nếu kể cả dầu thô, khu vực FDI xuất siêu khoảng 10,1 tỷ USD. Nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước gần 10,3 tỷ USD.
4. Thị trường trong nước
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội tháng 10 ước đạt 225,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 12,9% so với T10.2012. Tính chung 10 tháng, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội đạt 2.158,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ.
——————-
Theo VietFinance


0 nhận xét :
Đăng nhận xét